top of page

Giáo dục tích cực đã đến Việt Nam

Đánh giá hồ sơ học tập dựa trên việc quan sát và mô tả điểm mạnh của học sinh - phụ huynh cũng tham gia lên lớp như giáo viên, các dự án giáo dục tại trường đều được liên kết với gia đình… đó là những điều khác biệt đang diễn ra tại một ngôi trường áp dụng triết lý Giáo dục tích cực.

(Ảnh: BeeBlue House)


Những yếu tố làm nên Ngôi trường Hạnh phúc

Khi trào lưu Giáo dục mới đang rất thịnh hành tại Việt Nam, cùng với sự nổi lên của các triết lý, phương pháp giáo dục như Montessori, Steiner, Reggio Emilia thì Giáo dục tích cực vẫn còn là một cái tên xa lạ. Khác với những triết lý giáo dục kể trên, Giáo dục tích cực được xây dựng dựa trên nền tảng của Khoa học tâm lý, Giáo dục dựa trên bằng chứng kết hợp với kinh nghiệm thực hành của những nhà chuyên môn.


Tại Việt Nam, hiện nay đã có dự án phi lợi nhuận Cánh Diều được thực hiện từ năm 2017 với Fanpage Tâm lý học tích cực là nơi tổ chức nghiên cứu, dịch thuật và phổ biến kiến thức về Tâm lý học tích cực và ứng dụng của nó vào các mặt của đời sống. Có gần 10.000 độc giả thường xuyên theo dõi Facebook và Website của dự án.


Về Giáo dục tích cực, tại Việt Nam đã có một trường mầm non tư thục nhỏ tại TPHCM tuyên bố đi theo triết lý Giáo dục tích cực nhằm xây dựng một ngôi trường Hạnh phúc theo mô hình PERMA+ (P = Positive Emotion - Cảm xúc tích cực / E = Positive Engagement - Tham gia tích cực / R = Positive Relationship - Mối quan hệ tích cực / M = Positive Meaning - Ý nghĩa tích cực / A = Positive Accomplishment - Thành tựu tích cực / H = Positive Health - Sức khoẻ tích cực).



Chương trình Giáo dục tích cực tại đây đã được triển khai gần một học kỳ dưới sự giám sát và cố vấn từ Hội đồng chuyên môn của trường dựa trên cách tiếp cận Giáo dục dựa trên bằng chứng, có sự đo lường chặt chẽ về các nhân tố: Phát triển cảm xúc xã hội; Mức độ trải nghiệm cảm xúc tích cực và tiêu cực dành cho trẻ em mầm non; Đánh giá sự hài lòng của trẻ; Đánh giá sự hài lòng của phụ huynh và các ý kiến góp ý, đóng góp.


Bộ hồ sơ giảng dạy tại trường bao gồm hơn 40 mục tiêu, bao trong đó có: Giáo dục cảm xúc cho trẻ, dạy trẻ nhận diện và diễn đạt các cảm xúc thông qua lời nói và hành động; Các ứng xử phù hợp và tôn trọng đối với cảm xúc của người khác; Cung cấp cơ hội cho trẻ được kết nối và làm việc cùng bạn bè một cách tích cực ngoài những giờ trẻ học cá nhân; Hướng dẫn trẻ cách tạo lập và duy trì mối quan hệ, xử lý các xung đột trong quá trình làm việc chung bằng lời nói và hành động tích cực; Hướng dẫn trẻ bộc lộ cảm xúc và thực hành sự trân trọng, lòng biết ơn những gì được trao tặng và tự làm ra trong cuộc sống hàng ngày… Với mỗi mục tiêu, giáo viên sẽ dùng 03 bằng chứng (kế hoạch giảng dạy, hình ảnh hoặc clip chụp lại hành động của trẻ…) để chứng minh và được hỗ trợ, giám sát bởi Hội đồng sư phạm nhà trường. Các đoạn phỏng vấn với giáo viên được sử dụng để phân tích hiệu quả của chương trình trên các phương diện: Sự thay đổi tích cực của học sinh, của giáo viên về kỹ năng nghề nghiệp và sự hài lòng trong công việc; Sự thay đổi trong mối quan hệ giữa giáo viên – phụ huynh. Chương trình được thiết kế thực nghiệm như một nghiên cứu theo chiều dọc. Vì vậy các thang đo, bảng hỏi sẽ được sử dụng trước khi đưa chương trình vào vận hành và được đánh giá lại sau 3 và 6 tháng.


Nguyên tắc “ai cũng có điểm mạnh” Tại ngôi trường này, triết lý Giáo dục tích cực bao trùm lên toàn bộ những định hướng về xây dựng văn hóa nhà trường, chương trình học, phương pháp giảng dạy và mục tiêu giáo dục. Ngoài ra, Giáo dục tích cực còn là một chương trình được đưa vào giảng dạy trực tiếp. Việc triển khai Giáo dục tích cực được diễn ra dưới những hình thức sau:

Thứ nhất, các can thiệp Tâm lý học tích cực như “Ba điều tốt”; “Bức thư của Lòng biết ơn”; “Can thiệp hướng tương lai”; “Can thiệp điểm mạnh ” được áp dụng cho toàn trường với mục đích nâng cao cảm nhận hạnh phúc chủ quan và sự hài lòng cho toàn bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường.

Thứ hai, chương trình Giáo dục cảm xúc được đưa vào giảng dạy hàng tuần tại nhà trường như một môn học vừa có tính riêng biệt, vừa có tính kết hợp cho học sinh từ khối lớp Bé – Nhỡ đến Lớn. Cảm xúc cũng trở thành văn hóa lớp học với Bảng cảm xúc, Lọ cảm xúc được đặt tại các lớp giúp trẻ tự mình thực hành hàng ngày, ngoài những tiết học được giảng dạy bởi giáo viên.

Thứ ba, chương trình Giáo dục Nhân cách được tổ chức hàng tháng, mỗi tháng một chủ đề khác nhau, được quy định bởi Vòng quay điểm mạnh, bao gồm 24 điểm mạnh trong lý thuyết điểm mạnh nhân cách VIA như: Dũng cảm, Sáng tạo, Hài hước, Tình yêu học tập, Biết ơn, Bao dung, Tử tế, Tò mò… Chẳng hạn, với chủ đề “Biết ơn”, khối lớp bé sẽ đọc những câu chuyện và học những bài hát về lòng biết ơn. Khối lớp Nhỡ và Lớn sẽ thảo luận về lòng biết ơn; viết những bức thư (học sinh kể - giáo viên ghi lại) thể hiện lòng biết ơn của trẻ với người mà trẻ muốn và gửi đi. Sự ngẫu nhiên của Vòng quay sẽ giúp tránh được việc ưu tiên quá mức cho những nhóm Nhân cách riêng biệt.

Ngoài ra, tại trường, việc đánh giá hồ sơ học tập đều dựa trên việc quan sát và mô tả điểm mạnh của trẻ và dựa trên chính những điểm mạnh đó, giáo viên sẽ lập ra chương trình giáo dục cho toàn trường và từng cá nhân để trẻ phát huy những điểm mạnh vốn có cũng như phát triển những gì chưa biểu hiện mạnh mẽ trong thời điểm hiện tại.

Thứ 4, mối quan hệ Nhà trường – Học sinh – Phụ huynh không chỉ dừng lại ở việc giáo viên trao đổi với phụ huynh về tình hình học tập của trẻ tại lớp. Mỗi tuần, tại ngôi trường này, một phụ huynh sẽ đảm nhiệm làm giáo viên và đến lớp dạy cho toàn bộ học sinh trong trường về một chủ đề bất kỳ (Nấu ăn; Hát; Vẽ; Làm mộc…). Tất cả những dự án giáo dục tại trường đều được liên kết với gia đình như: Dự án “Mang điều tốt về nhà” (Tháng Lòng tốt); Dự án “Mang gia đình đến lớp” (Tháng Tình yêu)… Ngay cả việc đánh giá điểm mạnh của học sinh cũng dựa trên việc kết hợp báo cáo của phụ huynh và giáo viên. Trường còn tổ chức “Đêm ngủ tại trường” giúp trẻ khám phá trường ở một góc nhìn mới và tăng thêm sự gắn bó của trẻ với nhà trường. Được biết, ngoài ngôi trường mầm non nói trên, ở TPHCM hiện còn có một trường quốc tế lớn cũng đang áp dụng Giáo dục tích cực và sắp tới, một mô hình Giáo dục tích cực mang thương hiệu Việt Nam sẽ được công bố. Mặc dù các trường tư thục và quốc tế đang đi đầu, nhưng điều đó không có nghĩa Giáo dục tích cực không thể triển khai tại các trường công lập với quy mô học sinh lớn, như những gì đang diễn ra ở Trung Quốc, Bhutan, Singapore, và Úc. Các trường học tại Việt Nam hoàn toàn có thể áp dụng triết lý và phương pháp Giáo dục tích cực vào giảng dạy hoặc xây dựng văn hóa nhà trường dưới sự hướng dẫn và đào tạo của đội ngũ chuyên gia.

Nói về vấn đề này, Tiến sĩ Giáo dục Đỗ Thị Ngọc Quyên cho rằng, “Thời gian qua, trong môi trường nhà trường phổ thông đã xảy ra rất nhiều vụ việc nghiêm trọng liên quan tới quan hệ thầy, trò và phụ huynh, trong đó những đứa trẻ chịu sự tổn thương nặng nề. Giáo viên và những người quản lý giáo dục cũng trở thành nạn nhân của sự thiếu nhận thức, hiểu biết về vai trò của giáo dục, về phương pháp giáo dục và sư phạm đúng đắn, dẫn tới những phản ứng và hậu quả từ tiêu cực đến cực đoan của nhiều bên. Nếu họ được trang bị kiến thức về Giáo dục tích cực và công cụ sư phạm đúng đắn, các sự việc đau lòng này đã không xảy ra. Để hạn chế những sự việc như vậy, đồng thời thúc đẩy hiệu quả giáo dục, giáo viên phổ thông rất cần được đào tạo về các phương pháp Giáo dục tích cực.”


Trước khi khép lại bài viết, tác giả xin trích dẫn tâm sự của một cô giáo tại ngôi trường mầm non đang giảng dạy chương trình Giáo dục tích cực nói trên: “Điều đầu tiên giáo dục tích cực mang lại cho tôi và học trò của mình là mối quan hệ tích cực giữa cô và trò. Biết ơn nhau, yêu thương nhau, cùng nhau sáng tạo, cùng nhau kiên trì, cùng nhau dám nói lên và bảo vệ quan điểm của mình, cùng nhau ghi nhận thành tựu, cùng nhìn nhau dựa trên điểm mạnh – đó là những việc tôi và học trò của mình đã và đang cùng nhau.”

Tài liệu tham khảo: Jeanne Nakamura & Mihaly Csikszentmihalyi, 2002. The Concept of Flow. Handbook of Positive Psychology (pp. 89-105). Oxford University Press, 2002. Luthans,F.(2002). The need for and the meaning of positive organizational behavior. Journal of Organizational Behavior, 23, 695-706. Martin E. P. Seligman (2011). Flourish: A visionary new understanding of happiness and well-being. New York, NY: Free Press. Martin E. P. Seligman, 2018. Positive Education. Global Happiness Policy Report 2018 (pp. 53-73). Martin E. P. Seligman, 2002. Positive Psychology, Positive Prevention, and Positive Therapy. Handbook of Positive Psychology (pp. 3-12). Oxford University Press, 2002. Norrish, J. M., Williams, P., O’Connor, M., & Robinson, J. (2013). An applied framework for positive education. International Journal of Wellbeing, 3(2), 147-161. Park, N., Peterson, C., & Seligman, M. E. P. (2004). Strengths of character and well-being. Journal of Social and Clinical Psychology, 23(5), 603-619. Tülay Bozkurt (2014). New Horizons In Education: Positive Education And Emerging Leadership Roles Of Counselors. Social and Behavioral Sciences 140 (2014) 452 – 461

(Nguyễn Minh Thành)


* Bắt đầu tìm hiểu Giáo dục tích cực với khoá học https://www.heary.edu.vn/giao-duc-dua-tren-diem-manh

1,040 views0 comments

Recent Posts

See All

Comments


bottom of page